Lịch sử hãng BMW – Những bước ngoặt của thương hiệu BMW

Lịch sử hãng BMW – Những bước ngoặt của thương hiệu BMW

BMW AG (Bayerische Motoren Werke) là hãng sản xuất xe hơi, mô tô của Đức. BMW AG được thành lập từ 3 hãng khác nhau; Rapp Motorenwerke, Bayerische Flugzeugwerke (BFw) ở Bavaria và Fahrzeugfabrik Eisenach ở Thuringia.

20
CHIA SẺ

1388072850_bmwlogolrgpc

BMW AG còn được gọi với tên vắn tắt là BMW, thành lập vào ngày 07.03.1916. Ngày nay, BMW có trụ sở chính đặt tại Munich, Bavaria, Đức.

BMW cũng sỡ hữu thương hiệu Mini và là công ty mẹ của hãng Rolls-Royce Motor Cars. Trong năm 2010, tập đoàn BMW sản xuất 1.481.253 xe ô tô và 112.271 xe mô tô trên tất cả các thương hiệu của mình.

BMW là 1 trong 3 hãng lớn nhất bên cạnh Audi và Mercedes-Benz tại Đức.

Lịch sử hình thành

Về nhà sáng lập Gustav Otto Flugmaschinenwerke

Gustav Otto (12.01.1883 – 28.02.1926), ông là con trai của nhà phát minh động cơ đốt trong, Nikolaus August Otto. Gustav Otto là một phi công tiên phong ở Bavaria.

Gustav-Otto

Gustav Otto bên cạnh động cơ máy bay Argus

Năm 1910, Otto được cấp giấy phép bằng lái máy bay, khi ấy ông điều khiển chiếc máy bay 2 tầng cánh Aviatik. Trong cùng năm đó, Otto thành lập một trường đào tạo và nhà máy sản xuất động cơ máy bay Gustav Otto Flugmaschinenwerke năm 1913, nằm trên đường Lerchenauer Strasse, phía đông của quân trường Oberwiesenfeld ở Milbertshofen, Munich.

Otto đang tập trung xây dựng chiếc máy bay 2 tầng cánh Farman và trở thành nhà cung cấp chính cho Royal Bavarian Flying Corps.

otto-worke2_600

Nhà máy sản xuất động cơ máy bay Gustav Otto Flugmaschinenwerke

Gustav Otto Flugmaschinenwerke đổi tên thành Otto Werke vào tháng 01 năm 1915. Hãng đã không nhận được đơn đặt hàng từ quân đội Phổ do vấn đề chất lượng không được đảm bảo. Quân đội Phổ kêu gọi Otto sửa đổi dây chuyền sản xuất của mình nhưng các vấn đề vẫn không giải quyết được. Sự căng thẳng của thời chiến đã tạo áp lực quá lớn lên Gustav. Trong năm 1915, ông được đưa vào bệnh viện tâm thần ở Munich để điều trị chứng trầm cảm lâm sàng.

otto-worke

Gustav Otto Flugmaschinenwerke sau khi đổi tên thành Otto Werke

Khó khăn về mặt tài chính, công ty Otto Werke đã được mua bởi một tập đoàn, trong đó có MAN AG, cũng như một số ngân hàng vào tháng 02 năm 1916.

Gustav Otto cũng sở hữu một công ty khác có tên là AGO Werke, được thành lập vào năm 1914 để phát triển các loại máy bay khác của Otto-Werke nhưng AGO Werke cũng gặp khó khăn về tài chính giống như Otto Werke nên đã phải đóng cửa vào năm 1918. Năm 1926, từ những thất bại trong kinh doanh, cái chết của vợ và các vấn đề sức khỏe, Gustav Otto đã tự tử ở tuổi 43.

Bayerische Flugzeugwerke (BFw)

Một tháng sau khi mua Otto Werke, các nhà đầu tư thành lập một doanh nghiệp mới, Bayerische Flugzeugwerke AG (BFw). BFw sản xuất máy bay theo giấy phép của Flugzeugwerke Albatros (Flugzeugwerke Albatros là nhà sản xuất máy bay nổi tiếng nhất của Đức, cung cấp cho lực lượng không quân Đức trong Thế chiến I). Chỉ trong vòng một tháng xếp đặt, công ty đã có thể cung cấp máy bay cho quân đội Phổ và Bavaria.

Tuy nhiên, vấn đề chất lượng lại bắt đầu với phi hành đoàn không quân Đức, thường xuyên bị phàn nàn về khuyết điểm nghiêm trọng từ các động cơ đầu tiên của BFw. Điều này cũng đã từng xảy ra với máy bay được sản xuất dưới thời Otto Werke. Những thiếu sót này là do sự thiếu chính xác trong sản xuất. Phần lớn lực lượng lao động của BFw đều từ Otto Werke. Việc thay đổi tổ chức và giám sát dây chuyền lắp ráp chuyên sâu hơn đã giải quyết những vấn đề này vào cuối năm 1916. Trong những tháng sau đó, BFw đã có thể sản xuất hơn 100 máy bay mỗi tháng với lực lượng lao động khoảng 3.000 người và vươn lên trở thành nhà sản xuất máy bay lớn nhất ở Bavaria.

Sự kết thúc của cuộc chiến tranh đã làm cho BFw gặp khó khăn vì nhu cầu cho máy bay quân sự bị sụt giảm nặng. Người quản lý công ty buộc phải tìm các sản phẩm mới để tồn tại. Bởi vì máy bay phần lớn được xây dựng từ gỗ vào thời điểm đó, BFw được trang bị các nhà máy mộc hiện đại và vật liệu đủ để sản xuất 200 máy bay,. Công ty sử dụng các máy móc thiết bị và nguyên vật liệu để sản xuất đồ nội thất và nhà bếp.

Ngoài ra, từ năm 1920 trở đi, hãng cũng cho ra đời chiếc xe đạp có gắn động cơ được gọi là Flink và xe gắn máy Helios.

BFw Flink

BFw Flink đời 1920 với kiểu dáng như một chiếc xe đạp nhưng được trang bị thêm động cơ 2 kỳ, dung tích 148cc. Flink được sản xuất từ năm 1920-1922

BFw Helios_1920_tinoto

Chiếc BFw Helios được trang bị động cơ của BMW M2B15

BFw Helios_1920_tinoto2Helios

Rapp Motorenwerke

Năm 1913, Karl Friedrich Rapp thành lập Rapp Motorenwerke gần Oberwiesenfeld. Rapp đã chọn địa điểm gần Gustav Otto Flugmaschinenwerke (Otto Werke), người mà ông đã ký hợp đồng để cung cấp động cơ máy bay loại 4 xy-lanh.

Karl_Friedrich_Rapp

Karl Friedrich Rapp (24.09.1882 tại Ehingen – 26.05.1962 tại Locarno)

Rapp Motorenwerke

Nơi làm việc của những người thợ tại Rapp Motorenwerke

Rapp Motorenwerke_01

Rapp cũng ký hợp đồng phụ với Austro-Daimler để sản xuất động cơ máy bay V12 của họ. Austro-Daimler vào thời điểm đó không thể sản xuất đủ để đáp ứng nhu cầu về động cơ V12 này. Nhân viên giám sát sản xuất động cơ tại Austro-Daimler thay mặt cho chính phủ Áo là Franz Josef Popp, được ủy quyền để giám sát chất lượng động cơ tại Rapp Motorenwerke.

Franz-Josef-Popp

Franz Josef Popp (14.01.1886 tại Vienna – 29.07.1954 tại Stuttgart)

Popp không chỉ làm tốt vai trò của người giám sát mà còn tích cực tham gia trong việc quản lý tổng thể của công ty. Vào ngày 07 tháng 03 năm 1916, Rapp Motorenwerke trở thành Bayerische Motoren Werke GmbH (đây được xem là mốc thời gian thành lập của hãng BMW). Popp thuyết phục Karl Friedrich Rapp nhận Max Friz (kỹ sư thiết kế động cơ máy bay tại Daimler) vào làm.

Max-Friz

Nhà thiết kế huyền thoại Max Friz (01.10.1883 tại Urach – 09.06.1966 tại Tegernsee)

Lúc đầu, Karl Friedrich Rapp không đồng ý nhưng Popp đã thuyết phục Karl Friedrich Rapp chấp nhận Max Friz, bởi vì ông biết Rapp Motorenwerke cần phải có một nhà thiết kế. Trong vòng vài tuần, Friz đã chế tạo ra động cơ máy bay với bộ chế hòa khí mới và một loạt các chi tiết kỹ thuật khác cao cấp hơn bất kỳ động cơ máy bay khác trước đây của Đức.

Bayerische Motoren Werke GmbH 1917

Năm 1917, Karl Friedrich Rapp có vấn đề về sức khoẻ cũng như trong việc thiếu khả năng quản lý nên ông đã rời khỏi công ty. Sau đó, công ty được tái thiết lại với tên BMW GmbH. Max Friz chịu trách nhiệm về mặt phát triển kỹ thuật còn Franz Josef Popp được bổ nhiệm làm Giám đốc điều hành vào ngày 04.10.1917. Popp giữ vị trí này cho đến khi ông nghỉ hưu vào năm 1942.

Ngày 13.08.1918 BMW GmbH (Công ty trách nhiệm hữu hạn BMW) đã chuyển thành BMW AG (Công ty cổ phần BMW) như chúng ta biết ngày nay.

Sau khi bán và rời khỏi Rapp Motorenwerke, Karl Friedrich Rapp trở thành kỹ sư trưởng của THE Riedlinger Machine Factory, ông làm việc tại đây tới tháng 10.1923. Sau đó, năm 1934 Karl Friedrich Rapp chuyển đến sống tại Thụy Sĩ, nơi ông đam mê với việc nghiên cứu năng lượng mặt trời. Ông mất vào năm 1962 tại Locarno, Thụy Sĩ.

Vinh quang thời tiền chiến

Trong thời gian của năm 1917 và 1918, kỹ sư Max Friz đã tạo nên tiếng tăm cho BMW qua phát minh động cơ máy bay với bộ chế hòa khí mới có thể hoạt động ở độ cao và được làm mát bằng nước. Thiết kế mới này giúp BMW nhận được đơn đặt hàng hơn 2.000 động cơ từ Bộ chỉ huy Lục quân Phổ.

Thời hậu chiến

Vào ngày 13 tháng 09 năm 1919, Franz Zeno Diemer thiết lập một kỷ lục thế giới về độ cao với chiếc máy bay chở khách Junkers F.13 được hỗ trợ bởi động cơ BMW IIIa, đã chở tổng cộng 8 người và bay ở độ cao 6.750m.

BMW-IIIa_tinoto01

Động cơ BMW IIIa được ứng dụng bộ chế hòa khí mới do kỹ sư Max Friz chế tạo, cho công suất 180 mã lực, nó hoạt động tốt ở độ cao và được làm mát bằng nước.

BMW-IIIa_tinoto02Junkers-F-13

Junkers F.13 là loại máy bay vận tải được chế tạo hoàn toàn bằng kim loại đầu tiên trên thế giới

junkersf13_tinoto0110

Chiến tranh kết thúc và Hiệp ước Versailles được ký kết (28.06.1919) thì đó cũng là thời điểm đặt dấu chấm hết của BMW; Hiệp định Hòa bình Versailles có điều khoản cấm sản xuất động cơ máy bay ở Đức trong vòng 5 năm.

BMW – Bắt đầu một khởi đầu mới

Năm 1923, tại nhà máy Eisenach mới được xây dựng gần sân bay Munich. Chiếc mô tô đầu tiên của BMW R32 được ra mắt. BMW sản xuất 3.090 chiếc R32 trong suốt 3 năm. Sau chiến tranh thế giới thứ I, thương hiệu xe mô tô của BMW được biết với tên là BMW Motorrad.

BMW_R32_1923_005

Chiếc BMW R32 năm 1923 dẫn động bánh sau bằng trục lap

BMW_R32_1923_009BMW_R32_1923_01

R32 sử dụng động cơ phẳng kép nằm ngang đặt trên khung dạng ống kép, động cơ 2 xy-lanh với dung tích 494cc cho công suất 8.5hp tại vòng tua máy 3.300 vòng/phút, tốc độ tối đa 95km/h

BMW_R32_1923_003

Bảng đồng với nét thiết kê đơn sơ trên R32

BMW_R32_1923_001

BMW_R32_1923_091

Bộ đo công-tơ-mét rất đẹp, được dẫn động bằng dây curoa qua pu-ly bánh trước

BMW_R32_1923_002

Vào năm 1928, BMW mua hãng Fahrzeugfabrik Eisenach và năm 1928 cũng là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử BMW. Sản xuất tại nhà máy Fahrzeugfabrik Eisenach, chiếc Dixi 3/15 PS DA-1 ra đời, đánh dấu sự khởi đầu trong việc sản xuất ô tô của BMW. Dixi 3/15 PS DA-1 được chế tạo theo bản quyền của Austin và cũng giống các mẫu Bantam tại Mỹ và Datsun tại Nhật.

Dixi 3-15-PS DA-1

Chiếc Dixi đầu tiên sử dụng mui có thể mở được, được trang bị động cơ 4 xy-lanh, dung tích 747cc cho công suất 15hp, tốc độ tối đa khoảng 80km/h, kết hợp với hộp số tay 3 cấp.

Dixi 3-15-PS DA-1_tinoto01Dixi 3-15-PS DA-1_tinoto02

Năm 1929 một phiên bản cải tiến được ra đời, chiếc DA2 với khung gầm hoàn toàn bằng thép và trang bị hệ thống phanh ở 4 bánh. Năm 1930, chiếc Dixi đã giành được chiến thắng đầu tiên trên đường đua.

Tổng sản lượng mẫu xe này được sản xuất lên tới 18.976 chiếc.

315_da2_3

DA2 vẫn được lắp động cơ 4 xy-lanh, dung tích 747cc cho công suất 15 mã lực

Dixi 3-15-PS DA-2

Năm 1932 là năm ra đời mẫu BMW AM4 (Ausfuhrung Munchen 4 Gange – Munich Version 4 Speeds) – mẫu xe đầu tiên được phát triển hoàn toàn bởi BMW đi vào sản xuất.

AM4 còn được gọi với tên 3/20 PS, là thế hệ kế tiếp của Dixi. BMW AM4 trang bị động cơ 4 xy-lanh, dung tích 782cc cho công suất 20 mã lực tại vòng tua máy 3.500 vòng/phút và tốc độ tối đa 80km/h.

BMW 320 PS

BMW 3/20 PS (AM4) được xuất xưởng từ 1932-1934, với 7.215 chiếc.

Năm tiếp theo, 1933, đánh dấu sự ra đời của mẫu Sedan 303 – mẫu xe đầu tiên của BMW trang bị động cơ 6 xy-lanh mạnh mẽ, điểm đặc biệt này đã trở thành đặc trưng và luôn là tuỳ chọn đối với những chiếc xe của BMW cho đến ngày nay.

1933-Sedan 303_01

Mẫu 303 cũng là chiếc BMW đầu tiên trang bị lưới tản nhiệt hình quả thận đối xứng và nó đã trở thành nét đặc trưng đầy quyến rũ của thương hiệu BMW.

1933-Sedan 303

Với khung làm bằng thép ống, hệ thống treo trước độc lập và truyền động bánh răng, 303 đánh dấu mốc quan trọng trong thành tựu công nghệ. Động cơ 1.173cc cho công suất 30hp. Tốc độ tối đa 90km/h.

1933-Sedan 303_02

Năm 1934, BMW cho ra đời chiếc 315-1 Roadster rất sang trọng. 315-1 Roadster lắp động cơ 6 xy-lanh, dung tích 1.5L cho công suất 40 mã lực. Tốc độ tối đa khoảng 125km/h.

315-1 Roadster_tinoto_01

BMW 315-1 Roadster đã giành chiến thắng ở trận đua 2.000km trên toàn nước Đức

315-1 Roadster_tinoto_02

315-1 Roadster_tinoto_001

Phần mui mềm để bảo vệ nội thất rất thú vị của BMW 315-1 Roadster

Vào năm 1936, BMW 328 được ra mắt. Đây là mẫu xe nổi tiếng nhất trong lịch sử BMW (body kit của 328 được thiết kế bởi Peter Szymanowski) và là chiếc BMW thể thao được yêu thích nhất thời kỳ trước Thế Chiến Thứ 2, là thế hệ kế tiếp của 315/1 (1934-1936).

BMW 328 được chế tạo chủ yếu để tham gia các giải đua, nơi nó chứng tỏ khả năng của mình bằng chiến thắng giải Mille Miglia tại Italy năm 1938 nhưng sau đó, 328 cũng trở nên nổi tiếng trên cả đường trường.

bmw_328_002

BMW 328 lắp động cơ 6 xy-lanh, dung tích 1.971cc cho công suất lên tới 79 mã lực tại vòng tua máy 5.000 vòng/phút và đạt tốc độ tối đa 150km/h. Tổng cộng chỉ có 464 chiếc 328 được xuất xưởng từ năm 1936-1940.

bmw_328_001

Trọng lượng của 328 chỉ 830kg, nhờ cấu trúc khung gầm hình ống bằng chất liệu cực nhẹ và các bộ phận được chế tạo bằng hợp kim nhẹ như; capô, cửa và đuôi xe.

Thông tin về phiên bản kỷ niệm 75 năm mẫu BMW 328 ra đời; BMW 328 Hommage

Vào ngày 23.05.2011, BMW đã giới thiệu chiếc 328 Hommage tại Mille Miglia, Italy. Kiểu dáng 328 Hommage vừa hiện đại vừa mang nét cổ điển, được thiết kế bởi hai nhà thiết kế người Đức Fritz Fiedler và Rudolf Schleicher.

bmw-328-hommage-003

BMW 328 Hommage kỷ niệm 75 năm mẫu BMW 328 ra đời

BMW chưa tiết lộ chi tiết về thông số kỹ thuật của 328 Hommage. Chỉ biết 328 Hommage sẽ được trang bị động cơ 6 xy-lanh, dung tích 3.0L.

bmw-328-hommage-0091

Bộ La-zăng chế tạo bằng sợi carbon

bmw-328-hommage-00121

Karl Baumer giám đốc điều hành BMW Group Classic cho biết: “Với 328 Hommage, chúng tôi muốn bày tỏ lòng kính trọng niềm đam mê và sáng tạo với những người đã khai sinh ra mẫu BMW 328, họ đã tạo ra một bước ngoặt lớn trong ngành công nghiệp ô tô”.

BMW_328-Hommage-Concept-001

Mẫu BMW 328 được xuất xưởng những năm 1936-1940 với tổng cộng 464 chiếc

bmw-328-hommage-004

Phần nội thất thiết kế quá tinh xảo và nổi bật

bmw-328-hommage-001BMW-328-Hommage-4

Nội thất bọc da và nhiều chi tiết động cơ được lấy cảm hứng từ 328

bmw-328-hommage-002

Khóa đai an toàn được làm từ nhôm và sợi carbon

bmw-328-hommage-004-lg

BMW 328 Hommage có trọng lượng khoảng 780kg, bởi phần lớn ngoại thất và nội thất được chế tạo bằng hổn hợp nhựa và sợi carbon

bmw-328-hommage-005

Nội thất có thể chịu được nước mưa nên bạn yên tâm nhé!

BMW lại ghi danh mình vào sách kỷ lục thế giới vào ngày 28 tháng 11 năm 1937. Ernst Jakob Henne trên chiếc xe hai bánh được trang bị động cơ dung tích 500cc, công suất 108 mã lực đã trở thành người đàn ông nhanh nhất thế giới với tốc độ 279.508 km/h trên đường cao tốc Frankfurt-Darmstadt. Kỷ lục này được giữ đến 14 năm sau đó.

ernst_henne

Ernst Jakob Henne (22.02.1904 – 23.05.2005) bên chiếc mô tô mà ông đã lập kỷ lục với tốc độ 279.508 km/h

BMW motor01

Không tìm thấy tài liệu của BMW đề cập về chiếc mô tô này. (Nếu bạn biết thông tin về mẫu mô tô này thì bình luận bên dưới để bổ sung vào bài viết cho hoàn chỉnh nhé!). Ảnh: Stkone

BMW motor

Ảnh: Stkone

Thành công đã không ở lại lâu dài với BMW. Năm 1939, Chiến tranh thế giới lần II bùng nổ, BMW trở thành nhà sản xuất xe máy và động cơ máy bay chuyên dụng cho quân đội Đức.

Khi chiến tranh kết thúc năm 1945 cũng là lúc những nhà máy ở Đông Đức bị phá huỷ nặng nề, còn ở Munich quang cảnh trở nên hoang tàn và đổ nát. Một lệnh cấm mọi hoạt động sản xuất trong suốt 3 năm do lực lượng Đồng Minh đặt ra nhằm trừng phạt việc BMW đã sản xuất động cơ máy bay và tên lữa trong thời chiến.

1376626085_BMW- Munich

Trụ sở chính của BMW tại Munich, Bavaria, Đức.

Nhu cầu sử dụng 501 quá thấp so với kỳ vọng mà BMW đã đặt ra.

BMW501-22

BMW 501 đước bán với giá hơn 15.000 Mác Đức (Deutsche Mark), nó gấp khoảng 4 lần so với mức lương trung bình của người dân Đức vào thời điểm đó.

BMW501-201BMW501-3

501 ra mắt lần đầu vào tháng 4 năm 1951 tại triển lãm Frankfurt Motor Show, đối thủ của nó là chiếc Mercedes-Benz 22

BMW501-2

Nội thất sang trọng của mẫu Sedan hạng sang 501

Một hướng đi hoàn toàn khác bắt đầu đưa BMW trở lại vững vàng trên đôi chân của chính mình. Năm 1955, chiếc Isetta 250 được ra mắt và ngay lập tức thu được thành công trên thị trường xe cỡ nhỏ của thập niên 50. Trong suốt 7 năm sản xuất, BMW đã xuất xưởng tổng cộng 161.728 chiếc Isetta.

BMW Isetta 250_005

BMW Isetta 250 lắp động cơ 1 xy-lanh với dung tích 245cc, cho công suất 12 mã lực tại vòng tua máy 5.800 vòng/phút, tốc độ tối đa 85km/h.

BMW Isetta 250_003BMW Isetta 250_001

BMW Isetta 250 được chế tạo theo tiêu chuẩn bản quyền của hãng xe Ý, sử dụng một động cơ mô tô và một cửa duy nhất ở phía trước, kiểu cửa mở rất lạ và rất gọn.

BMW Isetta 250_004

BMW Isetta 250_002

Không gian nội thất rất đơn giản của chiếc xe nhỏ xinh xắn BMW Isetta 250

Hai năm sau, BMW vẫn không có chỗ đứng an toàn về tài chính, hãng đã cho ra đời một trong những mẫu xe đáng nhớ nhất trong lịch sử, chiếc BMW 507. 507 có sức sống trường tồn khi nó được gợi lại qua hình ảnh của Z8, mẫu Z8 được giới thiệu vào năm 1999 với những đường nét không thể nhầm lẫn với 507.

BMW 507_007

Ra mắt năm 1956, chiếc 507 nhanh chóng trở nên nổi tiếng, cửa được làm bằng hợp kim, mui mềm có thể cuộn lại, được thiết kế bởi Alberecht Graf Foertz

BMW 507_002BMW 507_003

Sức mạnh được cung cấp từ động cơ V8, dung tích 3.168cc với hai đường khí nạp cho công suất 150 mã lực tại vòng tua máy 5.000 vòng/phút, đủ để 507 bức phá với vận tốc tối đa trên 200km/h

BMW 507_004

Với vẻ ngoài quyến rũ và động cơ mạnh mẽ nhưng 507 không thể để đánh bại đối thủ, chiếc Mercedes-Benz 300SL

BMW 507_001

Chỉ 252 chiếc 507 được sản xuất từ năm 1956-1959, 507 được xem là biểu tượng của sự tranh đấu và chiến thắng của BMW suốt những năm 50 sau cuộc chiến tranh tàn khốc.

BMW suýt bị mua lại

Sau 2 năm 1958 và 1959, vấn đề tài chính của BMW bị thua lỗ nặng. Tại cuộc họp cổ đông thường niên vào ngày 09.12.1959 mang đầy bi kịch. Ban giám đốc và Ban quản trị đều là người do Deutsche Bank đặt vào, đưa ra đề nghị bán BMW cho Daimler-Benz và nếu theo đề nghị đó thì các cổ đông nhỏ gần như bị mất hoàn toàn sở hữu.

Số phận của BMW dường như đã được định đoạt vì Deutsche Bank đại diện cho khoảng một nửa vốn cổ phần nhưng diễn biến lại khác đi; các cổ đông nhỏ đã chống lại đề nghị bán BMW nhờ sự giúp đỡ của luật sư Dr. Friedrich Mathern và vì thế việc mua lại BMW của Daimler-Benz đã thất bại.

BMW và con đường chinh phục thành công

BMW tiếp tục tồn tại nhưng không đủ kinh phí để phát triển. Vào thời điểm này nhà tư bản công nghiệp Herbert Quandt đã đưa ra kế hoạch của ông. Ông tuyên bố sau khi tái định giá cắt giảm vốn đầu tư hiện hữu xuống và phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn đầu tư thì ông sẽ mua hết tất cả các cổ phiếu mới không bán được. Kế hoạch được thông qua, phần vốn của nhà đầu tư Herbert Quandt tăng lên, chiếm khoảng 60% và các nhà băng đã mất đi thế lực ở BMW.

Herbert Quandt

Herbert Werner Quandt (22.06.1910 – 02.06.1982)

BMW đã có nguồn vốn đầu tư. Bước đi tiếp theo trong qua trình phát triển của BMW và các thế hệ tiếp theo mà chúng ta biết đến này nay được ra mắt vào năm 1962. Chiếc BMW 1500 được phát triển trong cuộc khủng hoảng của những năm 50 là một trong những mẫu xe nổi tiếng khác của BMW và được xem là vị cứu tinh của BMW trong giai đoạn này.

bmw 1500_tinoto-03

BMW 1500 với hệ thống treo tuyệt vời và thiết kế nổi bật so với thời đó, khoang động cơ đặt thấp và cốp xe phía sau đã tạo nên sự riêng biệt độc đáo cho 1500. Động cơ 4 xy-lanh, dung tích 1.499cc cho công suất 80 mã lực ở 5.700 vòng/phút đủ để BMW 1500 đạt tốc độ tối đa 148 km/h.

bmw 1500_tinoto-01

Trong hai năm sản xuất, doanh số của mẫu BMW 1500 chỉ đạt 23.807 chiếc. Tuy nhiên, nếu tính tổng các thế hệ của nó (1500, 1600, 1800, 2000) đã đạt đến 334.165 chiếc.

bmw 1500_tinoto-02

Ảnh: history-of-cars.com

Dựa trên những mẫu xe này, thế hệ đầu tiên của 5 series, được gọi là E12 đã ra đời 10 năm sau đó – tức năm 1972. BMW 3 series được giới thiệu 3 năm sau đó và 2 năm tiếp theo là 7 series – năm 1977.

Năm 1990, BMW tái gia nhập ngành công nghiệp sản xuất động cơ máy bay sau khi thành lập BMW Rolls-Royce GmbH cùng với hãng Rolls-Royce. Năm 1998, sau một thời gian đàm phán về việc mua lại thương hiệu Rolls-Royce, BMW đã chính thức làm chủ Rolls-Royce từ tập đoàn Volkswagen, việc chuyển giao hoàn toàn diễn ra vào năm 2003.

Năm 1994, BMW mua thêm thương hiệu mới; Rover Group PLC, đã trở nên thất bại và BMW bị thua lỗ nặng. BMW bán Rover vào năm 2000 và chỉ giữ lại nhãn hiệu Mini. Từ năm 2002, mẫu Mini với thiết kế mới đã mang đến nhiều thành công.

Ngày nay, tất cả các series 1, 3, 4, 5, 6, 7, X1, X3, X5, X6, series M, Z4 và các mẫu Motorsport tiếp tục làm giàu thêm truyền thống chế tạo của BMW với điểm mạnh ở tính năng vận hành, phong cách và công nghệ vượt trội.

Năm 1992, ghi một dấu mốc quan trọng với BMW, khi lần đầu tiên trong lịch sử vượt mặt đối thủ đồng hương Mercedes về doanh số tại châu Âu. Hy vọng trong tương lai sự cạnh tranh giữa những thương hiệu ô tô và những nỗ lực để giữ cho mình luôn luôn là một hãng xe độc lập, sẽ là động lực thúc đẩy BMW tiếp tục cho ra những mẫu xe tuyệt vời.

Các mẫu xe hiện tại của BMW

1 Series (F20) (2011– Hiện tại) Hatchback
1 Series (E81) (2004 – Hiện tại) Coupe and convertible
3 Series (F30) (2012 – Hiện tại) Sedan, wagon
3 Series (E92) (2007 – Hiện tại) Coupe, convertible
5 Series (F10) (2010 – Hiện tại) Sedan, wagon
5 Series Gran Turismo (2009 – Hiện tại) Progressive Activity Sedan
6 Series (F12) (2010 – Hiện tại) Coupe, convertible, Gran Coupe
7 Series (F01) (2008 – Hiện tại) Sedan
X1 (2009–present) Compact Crossover SUV/Sports Activity Vehicle (SAV)
X3 (F25) (2010 – Hiện tại) Compact Crossover SUV/Sports Activity Vehicle (SAV)
X5 (E70) (2006 – Hiện tại) Compact Crossover SUV/Sports Activity Vehicle (SAV)
X6 (E71) (2008 – Hiện tại) Sports Activity Coupe
Z4 (E89) (2009 – Hiện tại) Sports Roadster

Các mẫu series M

Series M được phát triển riêng bởi BMW M GmbH (trước đây là BMW Motorsport GmbH) công ty con của BMW.

1 Series M Coupe – E82 Coupe (Chỉ trong năm 2011)
M3 – E90 Sedan, E92 Coupe, E93 Cabriolet (2007 – Hiện tại)
M5 – F10 Saloon (2011 – Hiện tại)
M6 – F12/13 (2012 – Hiện tại)
X5 M – E70 SAV (2010 – Hiện tại)
X6 M – E71 SAV (2010 – Hiện tại)

Thuật ngữ riêng của BMW

Dòng xe của BMW có 1 thuật ngữ riêng biệt, thường là 3 chữ số tiếp theo sau là 1 hoặc 2 chữ cái. Số đầu tiên là chỉ series. Hai số tiếp theo là chỉ dung tích xy-lanh.

Ví dụ: Chiếc BMW với ký hiệu 528i thì được hiểu như sau;
* Số 5 đầu tiên cho biết nó thuộc series 5
* Hai chữ số tiếp theo là 28, chỉ dung tích xy-lanh là 2.8L
* Chữ ‘I’ chỉ động cơ dùng nhiên liệu xăng

Hệ thống thuật ngữ trên dòng xe BMW

A = Automatic Transmission = Hộp số tự động
C = Coupé = Dòng xe 2 cửa. Ký hiệu này được bỏ đi từ các dòng xe sản xuất sau năm 2005
c = cabriolet = Có thể đóng mở mui được
d = diesel = Sử dụng nhiên liệu diesel
e = eta = Dòng xe hiệu quả kinh tế, tiết kiệm nhiên liệu
g = compressed natural gas/CNG = Sử dụng khí nén tự nhiên
h = hydrogen = Sử dụng nhiên liệu Hy-đrô
i = fuel-injected = Phun nhiên liệu ( Chỉ động cơ xăng )
L = long wheelbase/LWB = Trục cơ sở dài ( Khoảng cách giữa cầu trước và cầu sau của xe )
s = sport = Xe thể thao ( cũng ám chỉ xe 2 cữa )
sDrive = rear-wheel drive = Dẫn động cầu sau
x / xDrive = BMW xDrive all-wheel drive = Xe dẫn động 4 bánh
T = touring (wagon/estate) = Xe để phục vụ các chuyến đi xa và chở được nhiều đồ

‘Z’ chỉ dòng roadster hai chỗ ngồi. Gồm có Z1, Z3, Z4.

Ti = hatchback = Kiểu thân xe gồm 2 khoang: khoang động cơ phía trước và khoang hành khách chung với hành lý phía sau.

Series ‘X’ như X1, X3, X5, X6 là dòng xe SAV (Sports Activity Vehicles ), chỉ loại xe thể thao đa tính năng, những mẫu xe thể thao hòa quyện nhiều kiểu dáng khác nhau. Nó cũng chỉ về một dòng xe lai! Con số thứ hai trong series ‘X’ cho biết nền tảng thiết kế của nó. Ví dụ X5 có nguồn gốc từ Series 5.

Series ‘M’ ( Motorsport ). Dòng xe hiệu suất cao của BMW ( Ví dụ như M3, M5, M6, … ). M6 là chiếc xe hiệu năng cao nhất trong dòng 6 Series.

 

Xe đạp BMW

BMW cũng chế tạo ra các mẫu xe đạp cao cấp, được bán trực tuyến và ở các đại lý. Tại Hoa Kỳ, chỉ có duy nhất mẫu Cruise Bike được bán và loại xe đạp cho trẻ em.

 

Lịch sử logo của hãng

Logo BMW được tạo ra và đăng ký vào năm 1917. Logo BMW là một trong những biểu tượng dễ nhận biết nhất trên thế giới. Dixi 3/15 PS DA-1 là mẫu ô tô đầu tiên mang logo nổi tiếng này.

Logo không phải là một hình ảnh đơn thuần mà nó là nơi chứa đựng những bản sắc của một thương hiệu, một sự cô đọng nghệ thuật và không có gì biểu tượng cho sức sống, lòng trung thành và sự trường tồn hơn là màu cờ Tổ quốc. Không có gì dễ nhớ hơn là sự kết hợp giữa một hình khối giản đơn và những màu sắc quen thuộc, chính vì vậy mà logo BMW mang hai màu xanh, trắng của màu cờ xứ Bavaria với ngụ ý rằng BMW là công ty của người xứ Bavaria, BMW sẽ sống cùng và phát triển cùng với sự phát triển dân tộc.

bmw logo

Logo BMW ngày nay

Logo BMW rất ít thay đổi và luôn giữ được sự nguyên thủy của nó cùng với lịch sử phát triển của hãng

bmw-logo-history

Cờ tiểu bang Bavaria

Bavaria chính là nơi khai sinh nguồn cảm hứng cho logo của BMW. Dù có rất nhiều giả thuyết được tạo ra xoay quanh logo của BMW.

sodipodi_flags_germany_bavaria

Cờ của xứ Bavaria

Hơn 96 năm tồn tại, chịu ảnh hưởng của 2 cuộc Đại chiến, logo BMW vẫn song hành và phát triển. Ngày nay, logo BMW đã trở thành biểu tượng tiêu biểu đại diện cho sự cá tính, hiện đại và đẳng cấp.

Thành phần cổ đông của BMW

Gia đình Quandt nắm giữ 46.6%, trong đó Johanna Quandt giữ 16.7% (quả phụ của ông Herbert Quandt). Susanne Klatten thành viên của Ban quản trị 12.5 % (con gái của Johanna và Herbert Quandt). Stefan Quandt Phó trưởng Ban quản trị 17.4% (con trai của Johanna và Herbert Quandt).

Công ty Allianz 6.52 %

Các cổ đông khác 46.88 % trong đó có đến 40% thuộc về các công ty lớn.

 

Bảng tóm tắt các thông tin về hãng BMW

BMW.svg

Nghành công nghiệp Ô tô
Thành lập 07.03.1916
Nhà sáng lập Gustav Otto
Karl Friedrich Rapp
Franz Josef Popp
Trụ sở chính Munich, Germany
Phạm vi phục vụ Trên toàn thế giới
Thành viên chủ chốt Norbert Reithofer (CEO)Joachim Milberg (Chairman of the supervisory board)

Adrian van Hooydonk (Vice-President)

Karim Habib(Director of Design)

Sản phẩm Ô tô, mô tô, xe đạp
Sản lượng sản xuất 1.481.253 ô tô, thống kê năm 2010
112.271 mô tô, thống kê năm 2010
Người lao động 102.007 người, thống kê năm 2011
Trang chủ http://bmwgroup.com

Luân Trần– Theo Tinoto

>> Lịch sử hãng Ferrari – Từ niềm đam mê vượt qua những thách thức

CHIA SẺ