Lịch sử hãng Audi – August Horch con người đầy tài...

Lịch sử hãng Audi – August Horch con người đầy tài năng

Audi AG là hãng sản xuất ô tô danh tiếng của Đức có trụ sở chính đặt tại Ingolstadt, Bavaria và gần như thuộc sở hữu của Volkswagen Group (99.55%) từ năm 2012.

121
CHIA SẺ
1388115629_audi-logo010

Logo Audi AG với 4 vòng tròn bằng nhau tượng trưng cho sự đoàn kết và tôn trọng lẫn nhau

Audi AG có tiền thân từ Auto Union AG với logo là 4 vòng tròn đan xen vào nhau. Sau Thế chiến thứ 2, nhà máy sản xuất của Auto Union AG tại Saxony bị sung công và tháo dỡ bởi quân đội Xô Viết. Một số Giám đốc cấp cao của công ty chuyển đến Bavaria và thành lập công ty mới năm vào 1949 với tên gọi Auto Union GmbH và tiếp tục công việc sản xuất ô tô với logo là 4 vòng tròn đan xen vào nhau.

Auto Union GmbH và NSU sát nhập vào năm 1969 để thành lập Audi NSU Auto Union AG. Năm 1985, công ty đổi tên thành Audi AG và trụ sở chính được chuyển về Ingolstadt như ngày nay.

Lịch sử hình thành

Auto Union AG được hình thành từ việc sát nhập 4 công ty khác vào năm 1932, bao gồm; Horch & Cie (thành lập năm 1899), Audi (thành lập năm 1909), DKW (thành lập năm 1904) và Wanderer (thành lập năm 1896). Auto Union AG trở thành hãng sản xuất ô tô lớn thứ 2 tại thời điểm đó.

1. August Horch

August Horch là một trong những người đi tiên phong trong ngành công nhiệp ô tô Đức. Tốt nghiệp trường Cao đẳng Kỹ thuật tại thị trấn Mittweida, Saxony. August Horch bắt đầu làm việc tại nhà máy sản xuất động cơ tại Carl Benz, Mannheim. Sau đó, ông nhanh chóng trở thành Giám đốc bộ phận chế tạo động cơ.

August-Horch

Vĩ nhân August Horch

Năm 1899, ông quyết định thành lập công ty Horch & Cie của riêng mình tại Cologne. Ông là người đầu tiên ở Đức sử dụng nhôm nguyên khối để chế tạo động cơ và vỏ hộp số. Khớp các-đăng đóng vai trò truyền động và bánh răng bằng thép chịu lực.

Horch-logo

Logo thương hiệu Horch

Năm 1902, ông chuyển đến Reichenbach, Saxony và sau đó đến Zwickau vào năm 1904. Sau khi chuyển đến Zwickau, Horch cho ra đời mẫu xe sử dụng động cơ 2 xy-lanh và sau đó là phiên bản 4 xy-lanh. Động cơ này mạnh mẽ đến nỗi chiếc xe của Horch giành được thắng lợi tại cuộc đua Herkomer Run năm 1906, một cuộc đua đường trường khắc nghiệt nhất thế giới. Hai năm sau, lần đầu tiên công ty lập kỷ lục đạt doanh số hơn 100 xe/năm.

Vào ngày 16.07.1909, Fikentscher Paul đổi tên công ty thành Horch-Werke, vì xảy ra tranh chấp với August Horch, sau những bất đồng với Ban giám đốc và Hội đồng quản trị, August Horch rời khỏi công ty mình đã tạo dựng và nhanh chóng thành lập một công ty ô tô khác tại Zwickau. Do tên của ông đã được đặt cho công ty trước và nó đã được đăng ký thương hiệu nên ông phải đặt tên mới cho công ty bằng cách dịch tên mình ra ngôn ngữ khác. Tên của ông là “hark” trong tiếng Đức (có nghĩa là “nghe” ) và trong tiếng La tinh là Audi.

August Horch chuyển tới Berlin vào những năm 1920 và được bầu vào làm thành viên Hội đồng quản trị của Auto Union AG vào năm 1932. Tại đây, ông tiếp tục phụ trách việc phát triển công nghệ kỹ thuật mới.

“Horch sống những năm cuối đời tại Munchberg, Upper Franconia và ông mất năm 1951, hưởng thọ 83 tuổi. Hãng vẫn giữ tên Horch cho một số mẫu xe sử dụng những công nghệ do Ông phát minh. Hai trong số những kỹ sư giỏi nhất là Arnold Zoller và sau này là Paul Daimler, con trai của Gottlieb Daimler, được đưa lên phụ trách hoạt động của công ty Horch-Werke tại Zwickau.”

Mùa thu năm 1926, Horch-Werke cho ra mắt mẫu xe mới, chiếc Horch 8, sử dụng động cơ 8 xy-lanh thẳng hàng do Paul Dainler phát minh. Động cơ này nổi bật bởi sức mạnh và độ ổn định của nó. Chiếc Horch 8 trở thành biểu tượng của sự sang trọng, tinh tế và cao cấp nhất trong ngành công nghiệp ô tô.

Horch 8 Typ 470 Cabriolet_tinoto4

Horch 8 Typ 470 Cabriolet sử dụng động cơ dung tích 4.5L, cho công suất 90 PS và mô-men xoắn 88 Nm, được sản xuất từ năm 1931-1932. Trọng lượng 2.000kg

Horch 8 Typ 470 Cabriolet_tinoto48Horch 8 Typ 470 Cabriolet_tinoto2

Vẻ đẹp thanh lịch và rất xa hoa của Horch 8 Typ 470 Cabriolet

Horch 8 Typ 470 Cabriolet_tinoto3

Năm 1931, Horch-Werke giới thiệu chiếc mui trần cabriolet sử dụng động cơ V12 tại triển lãm ô tô Paris. Từ năm 1932-1934, chỉ có 80 chiếc mui trần này được bán, do thị trường xe siêu sang đang trong thời kỳ ế ẩm.

1931-typ-670-tinoto2

Horch Typ 670 Cabriolet 2 cửa với dung tích động cơ lên đến 6.021 cc

1931-typ-670-tinoto5

1931-typ-670-tinoto1

Đường nét thiết kế đẹp đến từng chi tiết

1931-typ-670-tinoto3

1931-typ-670-tinoto4

Động cơ của Horch Typ 670 cho công suất 120 mã lực. Tốc độ tối đa 140km/h

Horch là hãng dẫn đầu phân khúc xe hạng sang và doanh số của hãng luôn cao hơn 1/3 so với các đối thủ; Trong năm 1932, Horch bán được 773 xe tại thị trường Đức và xuất khẩu được 300 chiếc. Tuy nhiên, doanh số này vẫn chưa đủ và công ty gặp phải những khó khăn về tài chính.

2. Audi

Như thông tin đã đề cập trước đó; ngay sau khi rời khỏi công ty Horch-Werke năm 1909, Horch nhanh chóng thành lập một công ty sản xuất ô tô khác. Do tên của ông đã được đặt cho công ty trước, nên Horch đã dịch tên mình ra tiếng La tinh là Audi (có nghĩa là “nghe” ).

Audi_Logo

Logo thương hiệu Audi

Năm 1910, mẫu xe đầu tiên – Type A sử dụng thương hiệu Audi xuất hiện trên thị trường và nhanh chóng đạt được những thành công liên tiếp từ năm 1912-1914 trong cuộc đua International Austrian Alpine Run, một trong những cuộc đua đường trường khắc nghiệt nhất thế giới. Sau Thế chiến thứ I, Audi trở thành hãng đầu tiên đặt vô-lăng sang bên trái và chuyển hộp số vào giữa. Điều này cho phép việc điều khiển xe trở nên dễ dàng hơn.

Audi_Typ_A_22PS

Type A với động cơ 4 kỳ, 4 xy-lanh cho công suất 22 PS, tốc độ tối đa 75 km/h. Trọng lượng 830kg. Type A được sản xuất từ năm 1910-1912 với 140 chiếc được xuất xưởng.

Audi_Typ A_22PS2

Năm 1923, mẫu xe sử dụng động cơ 6 xy-lanh đầu tiên của Audi được ra mắt. Mẫu xe này có một máy làm sạch không khí bằng dầu và trở thành một tính năng đặc biệt vào thời đó. Phải mất nhiều năm sau máy làm sạch không khí mới trở thành trang bị tiêu chuẩn trên tất cả các dòng xe. Chiếc Audi này cũng là mẫu xe đầu tiên tại Đức sử dụng hệ thống phanh thủy lực ở cả 4 bánh do chính hãng Audi nghiên cứu và phát triển.

Năm 1927, kỹ sư trưởng Heinrich Schuh cho ra đời mẫu xe sử dụng động cơ 8 xy-lanh đầu tiên của Audi. Thật không may là mẫu xe này xuất hiện quá trễ khi mà thị trường xe hạng sang đang rơi vào tình trạng khủng hoảng.

AUDI-Typ-R-Imperator-5_0

Chiếc Audi Typ R “Imperator” 5.0 trang bị động cơ 8 xy-lanh, dung tích 5.0L cho công suất 100 mã lực. Được xuất xưởng từ 1927-1929.

Năm 1928, Audi được Jorgen Skaffe Rasmussen mua lại, một nhân tố quan trọng đằng sau sự thành công của DKW.

3. DKW

Jorgen Skaffe Ramussen sinh ra tại Đan Mạch, ông thành lập công ty đầu tiên của mình DKW, tại Saxony sau khi lấy bằng kỹ sư tại Mittweida. Năm 1904, ông thành lập một công ty kỹ thuật tại Chemnitz và 3 năm sau chuyển đến Zschopau, Erzgebirge – nơi ông bắt đầu nghiên cứu xe chạy bằng động cơ hơi nước vào năm 1916. Mặc dù những nghiên cứu này không tạo ra một sản phẩm nào nhưng nó đã giúp hình thành tên thương hiệu DKW. DKW trong tiếng Đức là “Dampf Fraft Wagen” có nghĩa là “Xe sử dụng động cơ hơi nước”.

DKW-logo-01

Logo thương hiệu DKW

Năm 1919, Rasmussen mua mẫu thiết kế động cơ 2 kỳ của Hugo Ruppe. Một phiên bản nhỏ của động cơ này được bán dưới dạng động cơ đồ chơi với tên gọi “The Boy’s Dream”. Động cơ nhỏ này sau đó được phát triển lớn hơn và sử dụng như một động cơ phụ.

Dưới sự điều hành của Rasmussen (cùng với giám đốc Kleine Wunder và kỹ sư trưởng Hernann Weber), DKW trở thành hãng sản xuất ô tô lớn nhất thế giới vào những năm 1920 và cũng là một trong những nhà sản xuất hàng đầu về động cơ ô tô.

Năm 1927, Rasmussen mua lại thiết kế và cơ sở sản xuất động cơ 6 và 8 xy-lanh từ một công ty ô tô ở Detroit. Hai mẫu xe mới của Audi sử dụng 2 động cơ này được tung ra thị trường (giai đoạn này đã liên kết thành Auto Union AG). Tuy nhiên, Rasmussen nhận thấy nhu cầu của thị trường và bắt tay vào sản xuất những dòng xe cỡ nhỏ.

Cuối năm 1930, Rasmussen để nhà máy tại Zwickau phát triển mẫu xe với với những đặc điểm thiết kế như: động cơ 2 xy-lanh, 2 kỳ, dung tích 600 cc, khung gầm bằng gỗ nguyên khối, bọc da giả và sử dụng hệ thống dẫn động cầu trước. Mẫu xe này được thiết kế bởi Walter haustein và Oskar Arlt với có tên là DKW – Front. DKW – Front lần đầu ra mắt tại triển lãm ô tô Berlin vào năm 1931 và nhanh chóng gặt hái được nhiều thành công.

DKW-Front-tinoto

Mẫu DKW – Front được sản xuất tại nhà máy của Audi và trở thành chiếc xe nhỏ của Đức phổ biến nhất và được sản xuất nhiều nhất vào thời điểm đó.

DKW-Front

4. Wanderer

Wanderer được thành lập năm 1896, bởi Johann Baptist Winklhofer và Richard Adolf Jaenicke tại Chemnitz. Ban đầu hãng sản xuất xe đạp và bắt đầu sản xuất ô tô vào năm 1902.

Wanderer-logo

Logo thương hiệu Wanderer

Mẫu xe đầu tiên được chạy thử vào năm 1904. Một mẫu xe cỡ nhỏ, có tên là “Puppchen”. Sau đó nó được đưa vào sản xuất đại trà vào năm 1913 và trở nên rất phổ biến.

MHV_Wanderer_Puppchen_1911_01

Chiếc Wanderer W1 5/12 PS hay còn được gọi là Wanderer Puppchen, trang bị động cơ 4 xy-lanh, dung tích 1.15L, cho công suất 12 mã lực. Tốc độ tối đa 70km/h. Trọng lượng 500kg.

MHV_Wanderer_Puppchen_1911

Không mẫu xe nào có hiệu suất cao được sản xuất, mãi đến năm 1926 khi chiếc Wanderer Type W10 với động cơ I4 dung tích 1.5L cho công suất 30 mã lực và đạt tốc độ tối đa 85km/h mới được giới thiệu ra thị trường. Mẫu xe này kết hợp tất cả những công nghệ kỹ thuật hiện đại nhất trong ngành công nghiệp ô tô thế giới lúc bấy giờ; hộp số đặt ở giữa, khớp ly hợp gồm nhiều tấm, hệ thống phanh 4 bánh và vô-lăng bên trái. Wanderer Type W10 đã được khách hàng đón nhận nồng nhiệt.

Wanderer_W10-IV_1

Để đáp ứng được nhu cầu tăng cao, nhà máy sản xuất mới được xây dựng tại Siegmar, ngoại ô của Chemnitz. Phụ tùng của xe vẫn được sản xuất tại nhà máy cũ và được chuyển đến nhà máy lắp ráp bằng xe lửa. Nhà máy tại Siegmar chỉ có thể chứa được số lượng phụ tùng đủ lắp ráp 25 chiếc – bằng sản lượng hằng ngày của nhà máy. Thương hiệu Wanderer đã gắn liền với sự ổn định và chất lượng vượt trội với các sản phẩm của hãng.

Đến cuối những năm 1920, Wanderer cố gắng tránh cuộc khủng hoảng bẳng cách cho ra đời nhiều mẫu xe có thiết kế hiện đại và động cơ mạnh mẽ. Tuy nhiên, bất chấp những thay đổi này, doanh số của hãng vẫn tụt giảm mạnh. Hoạt động sản xuất ô tô của Wanderer đứng bên bờ vực thẳm. Toàn bộ phân nhánh sản xuất được bán cho NSU và Janecek.

>>>> Auto Union AG

Auto Union AG

Audi, DKW, Horch & Cie và Wanderer liên kết để tạo thành Auto Union AG

Do cuộc khủng hoảng trầm trọng trong ngành công nghiệp ô tô từ những năm 1920 là một cơ duyên để; Horch & Cie, Audi, DKW và Wanderer liên kết thành Auto Union AG vào năm 1932. Dây chuyền lắp ráp và các máy móc hiện đại cho việc sản xuất lúc này tăng cao và phải mất nhiều năm mới có thể phát triển và lên kế hoạch hợp tác lâu dài.

Những biến cố thăng trầm về sự phát triển của thương hiệu Audi

Năm 1933, Auto Union tham dự triển lãm ô tô Đức lần đầu tiên sau khi sáp nhập. Audi đã tạo nên sự đột phá với những mẫu xe cỡ trung dẫn động cầu trước. Tuy nhiên nó không đạt được thành công như mong đợi.

Ý tưởng được thay đổi và vào năm 1938, chiếc Audi 920 với thiết kế hiện đại, sử dụng động cơ hiệu suất cao, được tung ra thị trường.

url

Động cơ mới được phát triển cho Audi 920 có công suất 75 mã lực và tốc độ tối đa lên tới 140 km/h

a_Audi_920_1000

Chiếc Audi này nhắm đến những khách hàng muốn sở hữu chiếc xe mạnh mẽ nhưng nhỏ gọn. Nhu cầu cho chiếc Audi 920 cao đến nỗi trong hơn một năm, số lượng xe được sản xuất đều được bán hết ngay sau khi trung ra thị trường.

audi_920_2

Trong thời gian này, tiếng tăm của DKW chủ yếu dựa vào những mẫu xe mô tô của mình. Năm 1933, hãng cho ra mắt mẫu xe với 8 phiên bản khác nhau sử dụng động cơ có dung tích từ 175 đến 600cc.

Một năm sau, chiếc RT 100 xuất hiện trên thị trường. Với thiết kế đơn giản, kết hợp được sức mạnh và mang tính kinh tế nên nó đã tồn tại suốt vài thập kỷ và vạch ra những tiêu chuẩn mới cho những mẫu mô tô sau này.

1935 RT100

DKW RT được bán với giá 345 mác Đức và là một trong những mẫu xe được sản xuất nhiều nhất qua mọi thời đại

m_dkw-rt100-1935

Chiếc DKW RT 100 đời 1935

Những mẫu ô tô cỡ nhỏ của DKW được sản xuất tại cả Berlin-Spandau (sử dụng hệ thống dẫn động cầu sau và động cơ V4 2 kỳ) và tại Zwickau (sử dụng hệ thống dẫn động cầu trước, động cơ 2 kỳ 2 xy-lanh). Tất cả động cơ được sản xuất tại Zschopau, trong khi khung gầm bằng gỗ của những mẫu xe sử dụng hệ thống dẫn động cầu trước được sản xuất tại Spandau.

Việc phát triển động cơ 2 kỳ được quan tâm rất đặc biệt. Auto Union AG đã có giấy phép của Klöckner-Humboldt-Deutz để sử dụng phát minh nguyên lý xả ngược trên động cơ 2 kỳ cho những mẫu xe cỡ nhỏ của hãng. Lợi thế của nguyên tắc này là giúp động cơ giảm tiêu thụ nhiên liệu trong khi vẫn đạt được hiệu suất cao.

Tối ưu hóa sản xuất

Những động cơ của Wanderer được tiêu chuẩn hóa và động cơ Horch V8 được thay thế bằng động cơ 6 xy-lanh thẳng hàng để đạt được hiệu suất cao hơn và ổn định hơn. Auto Union AG đã đạt được bước tiến lớn trong việc phát triển hộp số tự động và các kỹ sư của Auto Union AG đang tìm kiếm phương pháp mới để tạo hình và phát triển về thiết kế ngoại thất.

Bộ phận thiết kế của hãng nghiên cứu phá triển khí động học từ những chi tiết nhỏ nhất, sử dụng những phát minh về khí động lực học của một chuyên gia Thụy Sĩ, Paul Jaray. Những đặc tính khí động học được tính toán trên lý thuyết, rồi sau đó được kiểm tra chặt chẽ trong phòng thí nghiệm.

Phiên bản thân xe được đưa vào sản xuất cho DKW F9 có hệ số kéo ngang rất ấn tượng cD = 0.42. Đến các thập kỷ sau, đây vẫn là một con số lý tưởng cho các mẫu xe sản xuất tại Đức.

dkw_f9_saloon

F9 với thân xe bằng thép tấm, sức mạnh được cung cấp từ động cơ 3 xy-lanh, công suất 28 mã lực. DKW F9 được dự kiến đi vào sản xuất trong năm 1940 nhưng sau đó chiến tranh đã can thiệp.

 Do các cuộc chạy đua vũ trang nên sắt và cao su bị thiếu hụt nghiêm trọng, cộng với khung gầm xe bằng gỗ được bọc da quá đắt để sản xuất, Auto Union AG bắt đầu phát triển thử nghiệm thân xe bằng nhựa với sự hợp tác của Dynamit AG tại Troisdorf. Một chương trình thử nghiệm va chạm được phát triển để đánh giá độ bền của gỗ, thép và nhựa. Đây là cuộc thử nghiệm va chạm đầu tiên trong lịch sử ngành công nghiệp ô tô Đức.

Các thử nghiệm về đâm xe từ phía trước, sau và bên hông hay lật xe đều được mô phỏng tại Chemnitz. Bộ phận kỹ thuật sẽ kiểm tra và tìm hiểu tất cả các vấn đề liên quan đến chất liệu, phát triển phương pháp sản xuất và kiểm tra sự tương thích kỹ thuật của tất cả các mẫu thiết kế mới.

Bộ phận khoa học tập trung vào các mẫu động cơ trong tương lai, phát triển hộp số, nghiên cứu sự dao động, tiếng ồn và chuẩn bị cho những cuộc kiểm tra phức tạp. Bộ phận kiểm tra trên đường sẽ tiến hành các thử nghiệm thực tế hay các cuộc so sánh với các sản phẩm của đối thủ.

Auto Union AG đạt được sự tăng trưởng nhanh chóng trong nhưng năm 1933-1939, doanh thu hàng năm tăng từ 65 lên 276 triệu mác Đức và số lượng công nhân tăng từ 8.000 lên hơn 23.000 người. Sản lượng xe mô tô hàng năm tăng từ 12.000 lên 59.000 chiếc và ô tô từ 17.000 lên 67.000 chiếc. So với năm mà Auto Union AG được thành lập, sản lượng ô tô của Horch đã tăng gấp đôi trong năm 1938, Wanderer tăng 5 lần và tổng sản lượng ô tô của DKW tăng 10 lần.

Chiến tranh và phá sản

Sự bùng nổ của Thế chiến thứ II đặt dấu chấm hết cho sự phát triển này. Auto Union AG sản xuất những chiếc xe cuối cùng vào năm 1940. Từ đó trở đi, hãng bị buộc phải tập trung công việc sản xuất để phục vụ chiến tranh.

Auto Union AG tồn tại được 16 năm. Trong 3 năm cuối cùng của mình, Auto Union AG chỉ chờ đợi việc phá sản do 6 năm trước đó chiến tranh đã khiến mọi hoạt động sản xuất của công ty bị tê liệt hoàn toàn.

Những phát minh và thành công của Auto Union AG chỉ diễn ra trong vỏn vẹn 7 năm đầu thành lập. Sự sáng tạo và lành nghề của các kỹ sư tại Auto Union AG được minh chứng với hơn 3.000 bằng sáng chế được cấp tại Đức và những nơi khác. Cứ 4 chiếc xe chở người được đăng ký mới tại Đức trong năm 1938, thì có 1 chiếc do Auto Union AG sản xuất. Hơn 1/3 số xe mô tô được đăng ký mới tại Đức là của DKW. Auto Union AG đã tạo ra rất nhiều phát minh, nghiên cứu và ý tưởng đóng vai trò tiên phong cho sự ra đời của những chiếc xe hiện đại.

Sau chiến tranh, các cơ sở sản xuất của Auto Union AG bị sung công và phá hủy do sự chiếm đóng của quân đội Xô Viết. Năm 1948, Auto Union AG bị xóa tên khỏi sổ đăng ký kinh doanh tại thành phố Chemnitz. Trong thời gian này, những Giám đốc cao cấp của hãng chuyển đến Bavaria và thành lập một công ty mới tại Ingolstadt.

1368978982_Audi-AG-Headquarters-Ingolstadt

Trụ sở chính của Audi AG ngày nay tại Ingolstadt, Đức

Với trụ sở được đặt tại Tây Đức, mục đích chính của công ty là duy trì truyền thống sản xuất mà công ty Auto Aunion AG đã lập nên tại Saxony.

Cuộc sống tại thời điểm tái thành lập này rất khó khăn nên những mẫu xe có tính kinh tế cao là sự lựa chọn hàng đầu. Trong những năm đầu, những mẫu xe duy nhất được sản xuất tại Ingolstadt với logo 4 vòng tròn là những chiếc ô tô và mô tô của DKW sử dụng động cơ 2 kỳ.

Việc tái thành lập chính thức vào năm 1949, thực ra là bước đi thứ 2 trong sự phát triển mới sau chiến tranh. Bước đi đầu tiên diễn ra vào ngày 19.10.1945 khi công ty Zentraldepot für Auto Union Ersatzteile GmbH được thành lập tại Ingolstadt. Kho hàng trung tâm này có nhiệm vụ cung cấp phụ tùng cho các mẫu xe của Auto Union AG sản xuất trước chiến tranh vẫn tồn tại được sau 6 năm chiến tranh dữ dội. Có tổng cộng 60.000 xe như vậy trong các vùng bị chiếm đóng.

Tại sao lại chọn Ingolstadt?

Lý do chọn Ingolstadt để thành lập công ty mới vì ở đây giao thông rất thuận lợi do nằm ở trung tâm vùng Bavaria. Những nhân vật có ảnh hưởng trong chính quyền ở Ingolstadt cũng muốn công ty đặt kho hàng trung tâm tại đây nhằm giải quyết được số lao động nhàn rỗi tại địa phương.

audi-forum-ingolstadt

Toàn cảnh trụ sở của Audi tại Ingolstadt ngày nay

Tuy nhiên, lý do chính để chọn Ingolstadt làm nơi tái thành lập công ty là vì nơi đây có truyền thống qua hàng thế kỷ là nơi đóng quân của quân đội, nơi mà họ có quyền sử dụng vô số những trại lính, tòa nhà, hầm quân sự… giúp giảm khá nhiều chi phí cho việc xây dựng cơ sở vật chất mới.

Cuộc đình công Bavaria

Ngày 09.08.1954 diễn ra cuộc đình công lớn nhất trong ngành cơ khí ở Bavaria. Nó diễn ra lần đầu tiên ở Cộng hòa liên bang Đức, những công ty hoạt động trong lĩnh vực cơ khí còn gọi nó là “Sự kiện nổi bật nhất trong những năm sau chiến tranh”

Auto Union GmbH, một trong những công ty có số lượng công nhân lớn nhất thành phố với gần 5.000 người cũng gặp phải tình trạng tương tự. Những yêu cầu của công nhân là thời gian làm việc ngắn hơn, lương cao hơn và điều kiện làm việc cũng như sinh sống tốt hơn. Cuộc đình công Bavaria kéo dài đến ngày 31.08.1954 khi đã đạt được một thỏa thuận thông qua phán quyết của tòa án, theo đó mức lương trung bình sẽ tăng 4%.

Mối liên hệ với Daimler-Benz

Cuộc đình công Bavaria làm tiêu tốn của Auto Union GmbH khoản tiền 920.000 mác Đức. Tuy nhiên, năm 1954 vẫn là năm đầu tiên mà công ty đạt được doanh thu cao (khoảng 400.000 mác Đức). Cũng trong năm này, Friedrich Flick, một cổ đông lớn trong ngành thép, mua cổ phần trong Auto Union GmbH. Một vài năm trước, ông đã nhận ra rằng hãng sản xuất ô tô ở Ingolstadt này một ngày nào đó sẽ cần một đối tác có nhiều vốn đầu tư.

Năm 1957, Flick ủng hộ việc Daimler-Benz mua lại Auto Union GmbH. Tại thời điểm đó, ông đang nắm giữ 41% cổ phần tại Auto Union GmbH và 25% cổ phần tại Daimler-Benz. Ông cũng có được sự ủng hộ của Ernst Gohner – trùm tư bản công nghiệp, người cũng đang nắm giữ 41% cổ phần của Auto Union GmbH. Daimler-Benz AG chấp nhận lời đề nghị. Trước sự cạnh tranh của các đối thủ nước ngoài, Daimler-Benz AG muốn mở rộng sản phẩm của mình xuống các phân khúc thấp hơn để tăng tính cạnh tranh. Flick cũng gợi ý với Daimler-Benz rằng ông cũng đang thương thảo với Ford.

Ngày 24.04.1958, Daimler-Benz mua khoảng 88% cổ phần của Auto Union GmbH với giá 41 triệu mác Đức. Một năm sau, số cổ phần còn lại cũng được bán cho Daimler-Benz.. Với việc mua lại Auto Union GmbH, một công ty có lợi nhuận hàng năm khoảng 400 triệu mác Đức và hơn 10.000 công nhân, tập đoàn Daimler-Benz một lần nữa trở thành hãng sản xuất ô tô lớn nhất của Công hòa liên bang Đức về phương diện lợi nhuận hàng năm.

Nhà máy mới tại Ingolstadt

Tại thời điểm được Daimler-Benz mua lại, sản phẩm chính của Auto Union AG tại Ingolstadt chỉ là xe mô tô và xe tải chở hàng của DKW. Hoạt động sản xuất ô tô của Auto Union GmbH được tập trung tại nhà máy ở Dusseldorf từ năm 1950.

Để tăng hiệu quả cạnh tranh, hãng đã sản xuất lại những mẫu xe hiện đại giá rẻ từng được phát triển vào giữa những năm 1950 và được tung ra thị trường dưới tên DKW Junior. Dây chuyền sản xuất đã không đáp ứng đủ doanh số. Do đó, nhà máy mới nhanh chóng được xây dựng và địa điểm được chọn một là ở Ingolstadt hoặc Zons, gần Dusseldorf. Fritz Bohrn, lúc đó là Chủ tịch tập đoàn và là một thành viên Quốc hội đã cố gắng kéo nhà máy về Ingolstadt.

DKW_Junior_deLuxe

DKW sản xuất Junior từ năm 1959-1963 và từ năm 1963–1965 thì Junior được biết với cái tên là F11/F12. DKW Junior sử dụng động cơ 2 kỳ, dung tích lần lượt là 741cc, 796cc và bản 889cc. Sử dụng hộp số tay 6 cấp. Trọng lượng 700kg.

dkw-junior_tinoto

Vào tháng 06.1958, việc xây dựng nhà máy mới tại Ettinger Strasse, Ingolstadt cuối cùng cũng được khởi công. Số tiền đầu tư vào nhà máy này là 76 triệu mác Đức trong năm 1959 và thêm 51 triệu mác Đức nữa trong năm 1960 và nó được xem là nhà máy sản xuất ô tô hiện đại nhất châu Âu.

Thỏa thuận giữa Volkswagen và Daimler-Benz

Cuối năm 1958, Auto Union GmbH có 3.700 công nhân tại Ingolstadt và 12 tháng sau, con số này tăng lên 5.700 người. Việc xây dựng nhà máy mới không chỉ có lực lượng công nhân tăng lên, mà nó còn là yếu tố chính để Auto Union GmbH quyết định chuyển hoạt động sản xuất của công ty về Ingolstadt vào năm 1961. Sản lượng và doanh thu của Auto Union GmbH đều giảm mạnh trong khi công ty mẹ vẫn phát triển nhanh chóng.

Năm 1962, Auto Union GmbH phải đương đầu với tình hình tài chính khó khăn. Dainler-Benz AG nhận thấy giải pháp tốt nhất để giải quyết vấn đề này là bán Auto Union GmbH cho Volkswagen. Chủ sỡ hữu mới của Auto Union GmbH đã phải trả khoản tiền lên đến 297 triệu mác Đức cho thương vụ này và đến năm 1966, Volkswagen đã toàn quyền sở hữu Auto Union GmbH.

Được Vokswagen mua lại nên Auto Union GmbH đã thoát khỏi phá sản. Kỷ nguyên của động cơ 2 kỳ vốn rất phổ biến trước đây đã chấm dứt và gần 30.000 chiếc ô tô của DKW chưa bán được phải đem “bán sắt vụn”.

Chiếc Beetle của Volkswagen đã cứu Auto Union GmbH, khi chỉ từ tháng 05.1965 đến tháng 06.1969, gần 348.000 chiếc Beetle đã được lắp ráp tại Ingolstadt.

Vào tháng 08.1965, hãng bắt đầu cho ra mắt chiếc “Audi” mới. Mẫu xe này là mẫu đầu tiên sử dụng động cơ 4 kỳ được sản xuất tại Ingolstadt. Nó nhanh chóng trở nên phổ biến và đặt nền tảng cho sự thành công của những mẫu xe sau này.

Tuy nhiên, sự hồi phục này cũng không kéo dài được lâu. Sau hơn 15 năm phát triển liên tục, nền kinh tế Đức bất ngờ rơi vào khủng hoảng từ năm 1966-1967 và ảnh hưởng nghiêm trọng đến Audi. Công ty phải cắt giảm tối đa việc sản xuất và tình trạng không có việc làm là điều tất yếu không thể tránh khỏi.

Ngày 10.03.1969, Auto Union GmbH đồng ý thỏa thuận sáp nhập với NSU Motorenwerke AG. Sự kiện này dẫn đến sự ra đời của công ty mới với tên Audi NSU Union AG.

Công ty này có trụ sở chính tại Neckarsulm và doanh số của Audi và NSU tăng liên tục cho đến năm 1973 khi cuộc khủng hoảng dầu mỏ nổi lên. Năm 1974, sự suy giảm của nền kinh tế thế giới đã khiến công ty phải giảm lượng xe sản xuất xuống còn 330.000 chiếc, so với sản lượng 400.000 chiếc vào năm 1973.

Cuộc khủng hoảng này cũng khiến cho hãng phải cắt giảm nhân công. Năm 1974, tổng số lượng lao động của hãng giảm từ 33.800 xuống còn 28.600 người và trong năm 1975 đã có 1.700 người mất việc chỉ riêng tại nhà máy ở Ingolstadt.

Sự phát triển mới

Nền công nghiệp ô tô được phục hồi vào cuối năm 1975, có thể thấy được sự phát triển đó qua doanh số của các mẫu Audi. Chiếc NSU Ro 80 cuối cùng rời dây chuyền lắp ráp vào tháng 03.1977, mốc thời gian này cũng đánh dấu sự biến mất của thương hiệu NSU, một thương hiệu có lịch sử hơn 100 năm. Kể từ năm này, tất cả ô tô được sản xuất tại Neckarsulm đều mang thương hiệu Audi.

NSU_Ro_80_1971

NSU Ro 80 bắt đầu được sản xuất từ năm 1967 đến năm 1977, sử dụng động cơ quay Wankle cho công suất 113 mã lực, kết hợp với hộp số tay 3 cấp. Trọng lượng khoảng 1.251 kg

NSU_RO80_tinoto

Năm 1980, Audi khuấy động thị trường khi giới thiệu mẫu Audi Quattro tại triển lãm Geneva Motor Show, mẫu xe thương mại đầu tiên sử dụng hệ thống dẫn động 4 bánh. Các hoạt động đua xe Rally càng góp phần làm nổi bật mẫu Concept Quattro của Audi.

Năm 1981, Michele Mouton – người phụ nữ Pháp đầu tiên trên thế giới đoạt giải vô địch đua xe Rally. Tiếp theo thành công rực rỡ đó, vào năm 1982, Audi trở thành hãng xe Đức đầu tiên giành chiến thắng tại cuộc thi Manufacturers World Championship và tiếp tục giành chiến thắng vào năm 1984.

Audi Quattro_1980

Audi Quattro được phát triển dựa trên mẫu Audi 80 Coupe nhưng với đường nét thiết kế góc cạnh hơn. Audi Quattro đời 1981 trang bị động cơ tăng áp, 5 xy-lanh thẳng hàng, dung tích 2.144 cc cho công suất 197 mã lực và mô-men xoắn 285Nm đủ để Audi Quattro tăng tốc từ 0-100km/h chỉ trong 7.1 giây. Tốc độ tối đa 220km/h. Trang bị hộp số tay 5 cấp. Trọng lượng 1.290kg.

1981-audi-quattro_tinoto1

Mẫu xe huyền thoại của Audi – Audi Quattro

Ngày 01.01.1985, Audi NSU Auto union chính thức đổi tên thành Audi AG. Trụ sở chính thức của hãng cũng nhanh chóng được chuyển từ Neckarsulm về Ingolstadt. Năm 1985, tổng số vốn đầu tư của Audi AG tăng lên 1 tỷ mác Đức, mức cao nhất trong lịch sử của hãng. Các tiêu chuẩn liên quan đến sản phẩm và phát triển công nghệ kỹ thuật mới là những mục tiêu trọng tâm để đầu tư.

Mùa thu năm 1986, chiếc Audi 80 với thân xe mạ kẽm được tung ra thị trường. Nó được bảo hành đến 10 năm không rỉ sét, qua đó thiết lập những tiêu chuẩn mới trong dòng xe này. Audi 80 tiếp tục được phát triển với các phiên bản Audi 80 B1, Audi 80 B2, Audi 80 B3 và Audi 80 B4.

Năm 1988 chứng kiến sự xuất hiện của chiếc V8, mẫu xe hạng sang đầu tiên của Audi với động cơ V8 dung tích 3.6L loại 4 van và bản 4.2L, sử dụng cam đôi (DOHC) loại 32 van, hộp số tự động 4 cấp.

audi_v8_1988_tinoto2

Động cơ V8 3.6L cho công suất 246 mã lực và mô-men xoắn 340Nm. Tăng tốc từ 0-100 km/h trong 9.9 giây, tốc độ tối đa 232 km/h. Trọng lượng 1.712 kg

audi_v8_1988_tinoto4(1)

audi_v8_1988_tinoto3

Bảng táp-lô với các đồng hồ hiển thị rõ ràng và rất đơn giản.

Khẩu hiệu của Audi “Vorsprung durch Technik” có nghĩa là “Tiến bộ nhờ Kỹ thuật”. Điều này được minh chứng bằng mẫu động cơ lý tưởng TDI (Turbocharged Direct Injection). Động cơ này có mức tiêu thụ nhiên liệu cực thấp và đã được chứng minh trong một vài cuộc thử nghiệm về mức độ tiêu thụ nhiên liệu.

1993-1995_Audi_80_tinoto1

Chiếc Audi 80 TDI bản B4 được sản xuất từ năm 1993-1995, trang bị động cơ V6 có dung tích cao nhất là 2.8L cho công suất 171 mã lực, sử dụng hộp số tay 5 cấp hoặc số tự động 4 cấp

1993-1995_Audi_80_tinoto2

Đầu những năm 1990, thị trường thế giới đang trong thời kỳ suy yếu nhưng sự kiện lịch sử về việc Bức tường Berlin bị sụp đổ dẫn đến việc thống nhất nước Đức và đồng tiền chung của Đức được lưu hành đã tạo ra làn sóng cung cầu tăng cao ở thị trường trong nước. Doanh số bán hàng tăng nhanh giúp Audi đạt được doanh thu kỷ lục ở mức 14.8 tỉ mác Đức vào năm 1991.

Audi báo trước thời kỳ phát triển mới bằng việc giới thiệu mẫu xe sử dụng vật liệu nhôm Audi Spaceframe (ASF) tại triển lãm ô tô Tokyo vào mùa thu năm 1993.

audi a8 asf_tinoto

Audi Spaceframe có trọng lượng từ 100-150 kg và nhẹ hơn rất nhiều so với khung thép.

Mẫu Audi này được chính thức giới thiệu lần đầu vào tháng 03.1994 với tư cách là kẻ kế vị của Audi V8. Mẫu xe mới có tên là A8, đánh dấu sự thay đổi lớn của Audi trong việc đặt tên các mẫu xe của hãng.

audi-a8-quattro-1994_05

Audi A8 đời 1994 với động cơ V8 bản 4.2L cho công suất 295 mã lực kết hợp với hệ dẫn động 4 bánh

audi-a8-quattro-1994_02audi-a8-quattro-1994_01

audi-a8-quattro-1994_03

Động cơ V8, dung tích 4.2L cho công suất 295 mã lực của Audi A8 đời 1994

Thông tin và hình ảnh về Audi A8 đời 2013

Audi A8 đời 2013 với công nghệ đèn pha LED ma trận; gồm những bóng LED chùm sáng cao được chia thành nhiều phần nhỏ với thấu kính và chóa đèn riêng biệt. Tùy vào từng điều kiện ánh sáng trên đường mà chúng được kích hoạt hay ngừng kích hoạt.

2013-Audi-A8-L-Front-7-8-Right

Trên A8 mới, mỗi đèn pha của xe được gắn 25 bóng LED chùm sáng cao và được phân chia theo từng nhóm, mỗi nhóm gồm 5 đèn LED với một chóa đèn. Với công nghệ mới này, Audi tự tin rằng hệ thống sẽ cho ánh sáng tốt nhất và hiệu quả hơn nhiều so với công nghệ của các hãng đối thủ.

2013-Audi-A8-L-Rear-3-4-Right-Closeup-Cruising

A8 phiên bản 2013 sử dụng động cơ tăng áp V6 3.0L thay cho động cơ V8 4.2L của A8 2012, động cơ mới này cho công suất 333 mã lực và mô-men xoắn 440 Nm thấp hơn động V8 4.2L của bản A8 2012 (công suất 372 mã lực, mô-men xoắn 444 Nm).

Mục đích mà hãng nhắm tới ở phiên bản A8 đời 2013 là giá thành (A8 đời 2013 có giá bán thấp hơn 6.000 USD so với bản 2012) và trọng lượng xe (đời 2013 có trọng lượng 1.97 tấn giảm 22.22Kg so với phiên bản trước). Được giảm trọng lượng nên sự năng động của A8 đời 2013 vẫn không thua kém đời 2012.

2013-Audi-A8-L-Front-7-8-Right-Profile

Audi A8 đời 2013 có giá từ 73.100 USD cho bản tiêu chuẩn và khoảng từ 79.400 USD cho bản trục cơ sở dài

2013-Audi-A8-L-Interior-Front-Driver-Side

Nội thất cực kỳ sang trọng và quý phái

2013-Audi-A8-L-Rear-Seat

Mẫu A6 được ra mắt vào mùa hè sau đó. A4 ra mắt vào tháng 11.1994. Mẫu A4 nhanh chóng mang lại thành công cho Audi khi mà chỉ trong năm 1995 đã có 120.000 chiếc Audi A4 được bán ra chỉ riêng tại Đức.

Hình ảnh và thông tin về Audi A6 đời 1994

Audi_A6_tinoto2

Audi A6 đời 1994 với phiên bản động cơ cao nhất I5, dung tích 2.5L TDI cho công suất 138 mã lực

Audi_A6_tinoto1

Hình ảnh và thông tin về Audi A4 đời 1994

audi_A4_tinoto2

Audi A4 đời 1994 với phiên bản động cơ cao nhất V6 2.8L, cho công suất 190 mã lực

audi_A4_tinoto1

Mùa thu năm 1995, Audi nối tiếp sự thành công của mình bằng việc ra mắt mẫu Concept thể thao Audi TT Coupé và Audi TT Roadster. Mẫu TT Coupé và TT Roadster thương mại chính thức được bán ra thị trường vào năm 1998 và 1999.

_Audi_TT_(8N)_1_8_T_coupe_02

Audi TT được trang bị với 2 phiên bản động cơ loại I4 1.8L và VR6 3.2L

_Audi_TT_(8N)_1_8_T_coupe_01

Hình ảnh Audi TT Roadster đời 2002

Audi_TT_Roadster_1_8_T_quattro_01 Audi_TT_Roadster_1_8_T_quattro_02

Một năm sau 1996, Audi giới thiệu chiếc A3, một mẫu xe cỡ nhỏ 3 cửa hatchback, với mục tiêu thu hút thêm đối tượng khách hàng mới. Mẫu Audi A3 được phát triển qua 2 thế hệ; Thế hệ thứ nhất từ năm 1996-2003.

1996-a3-2door-hatchback-tinoto02

Mẫu xe cở nhỏ Audi A3 với 3 cửa hatchback đời 1996 được trang bị động cơ I4 dung tích từ 1.6L – 1.9L. A3 đời 1996 sở hữu chiều dài 4.152 mm, rộng 1.735 mm và cao 1.423 mm

1996-a3-2door-hatchback-tinoto01

Thế hệ thứ 2 được phát triển từ năm 2003 đến hiện tại 2013 gồm các phiên bản; 3 cửa hatchback (năm 2003), 5 cửa hatchback (năm 2004) và bản 2 cửa cabriolet (năm 2008)

Vào năm 1997, Audi giới thiệu mẫu Audi A6 mới

800px-C5-Audi-A6-wagon

Audi A6 đời 1997 có chiều dài 4.796 mm và rộng 1.810 mm

Audi_A6_wagon_--_01-01-2012

Từ năm 1994, Audi có được sự phát triển liên tục và trở thành nhà sản xuất ô tô cao cấp nổi tiếng trên thế giới. Hãng vẫn duy trì sản xuất tại Đức, Hungary, Trung Quốc và Nam Phi.

Năm 2000, doanh số của Audi đạt 650.000 chiếc và lợi nhuận đạt 39 tỉ mác Đức.

Ngày 16.07.2009, Audi – thương hiệu do August Horch sáng lập đã kỷ niệm 100 năm ngày thành lập

Cuộc triễn lãm đặc biệt diễn ra tại bảo tàng Audi ở Ingolstadt với những mẫu xe Audi cổ xưa nhất để kỷ niệm 100 năm thương hiệu Audi với chủ đề “Từ Horch đến Audi – Lịch sử hơn 100 năm trước”, những mẫu xe nổi tiếng trong lịch sử đã được tập trung lại từ khắp mọi nơi ở Châu Âu.

museumobile in  ingolstadt

Bảo tàng Audi ở Ingolstadt

audi_museum-mobile

Khách tham quan đến với bảo tàng ô tô của Audi sẽ được nhìn thấy 13 mẫu xe từ trước Thế chiến thứ hai, bao gồm những mẫu xe đầu tiên mang thương hiệu Audi; Audi Type A năm 1911 và mẫu xe nổi tiếng vào năm 1935, Audi 225 Front Special Roadster.

Audi_Typ_A_22PS

Audi Type A với động cơ 4 kỳ, 4 xy-lanh cho công suất 22 PS, tốc độ tối đa 75 km/h. Trọng lượng 830kg. Type A được sản xuất từ năm 1910-1912 với 140 chiếc được xuất xưởng.

35-Audi-Front-Roadster-DV-09-PBC-01

Audi 225 Front Special Roadster

Audi 225 Front Special Roadster  là chiếc xe thanh lịch ở mọi thời đại của Audi, nó chỉ có hai nguyên mẫu được chế tạo vào năm 1935 và cả hai đều đã biến mất nhưng Audi đã cho xây dựng lại một bản sao của 225 Front Special Roadster. Giờ đây chiếc Roadster này đã xuất hiện trên thế giới tại bảo tàng Audi ở Ingolstadt.

Audi Type E Phaeton

Audi Type E Phaeton đời 1924 với tốc độ tối đa khoảng 90-100km/h. Giá 14.500 marks lúc bấy giờ

Audi_22_55ps

Audi Type E Phaeton được phát triển vào năm 1913 với 55 mã lực từ động cơ 4 xy-lanh, dung tích 5.7 lít – dung tích lớn nhất được phát triển bởi Audi trong suốt thời gian ở Zwickau. Mẫu xe này vẫn được sản xuất cho đến năm 1924 với 301 chiếc được sản xuất.

Audi-1435-PS-Type-C-Phaeton,-1913

Audi Type C được xuất xưởng từ năm 1911 đến 1925 với 1.116 chiếc

Audi_C_14_35_Alpensieger_-_back

Audi Type C với động cơ 4 xy-lanh, dung tích 3.560cc cho công suất 35 mã lực. Tốc độ tối đa hơn 80km/h. Giá thời đó 10.500 marks

Audi Type M_tinoto1

Audi Type M được sản xuất từ 1925-1928. Tổng 228 chiếc được xuất xưởng

Audi Type M_tinoto3

Audi Type M với động cơ 6 xy-lanh, dung tích 4.660cc cho công suất 70 mã lực. Tốc độ tối đa hơn 120km/h. Giá 22.300 Reichsmarks

Audi Type M_tinoto2

Theo sau Audi Type M, mẫu xe mang động cơ 8 xy-lanh đầu tiên của Audi, Audi Type R (có tên gọi khác là Audi Imperator) với dung tích 4.872cc cho công suất 100 mã lực, sử dụng hộp số 3 cấp. Tốc độ tối đa 120km/h.

Audi Type R_tinoto1

Audi Type R được sản xuất từ 1927-1929 với 145 chiếc. Giá 16.000 Reichsmarks

Audi Type R_tinoto2

Năm 1931, Audi ra đời chiếc Type P, tưởng chừng nó đã không còn tồn tại. Đến năm 2003, một chiếc Type P đã được tìm thấy ở Ludwigsburg. Người sở hữu nó sau cùng là Thị trưởng của một thị trấn miền Swabian, Đức. Chiếc xe này đã bị lãng quên từ 1955.

Audi_Typ_P-1931_tinoto2

Audi Type P với động động cơ 4 xy-lanh, dung tích 1.122cc, cho công suất 30 mã lực. Tốc độ tối đa 80km/h.

Audi_Typ_P-1931_tinoto1

Type P được sản xuất từ 1931-1932 với 327 xe được xuất xưởng. Giá 3.385 Reichsmarks

Lịch sử logo của hãng

Như các bạn đã biết sau khi tìm hiểu về lịch sử Audi, Audi AG ngày này được xác nhập bởi 4 công ty độc lập vào năm 1932, bao gồm; Horch & Cie (thành lập năm 1899), Audi (thành lập năm 1909), DKW (thành lập năm 1904) và Wanderer (thành lập năm 1896). Chính sự xác nhập này mà logo của Audi có biểu tượng của 4 vòng tròn như ngày nay. Tất cả các hình tròn có kích thước bằng nhau, nằm bình đẳng trên một đường ngang, được lồng vào nhau để thể hiện sự đoàn kết và tôn trọng lẫn nhau.

Audi-Logo-History

Không ít người lần đầu tiên nhìn thấy logo hãng Audi đã liên tưởng đến biểu tượng của thế vận hội Olympic. 5 vòng tròn trên lá cờ Olympic được Bá tước Pierre de Coubertin – vị Chủ tịch đầu tiên của Ủy ban Olympic quốc tế (IOC) giới thiệu vào năm 1914 và trở thành biểu tượng của Thế vận hội 1920 tại Antwerp, Bỉ. Biểu tượng 5 vòng tròn tượng trưng cho 5 châu lục cùng sát cánh bên nhau trong phong trào Olympic.

Bảng tóm tắt các thông tin về hãng Audi AG

Audi logo detail.svg
Loại hình công ty Public
Ngành công nghiệp
  • Phân phối ô tô
  • Sản xuất ô tô
Thành lập 16.07.1909 tại Zwickau, Germany
Nhà sáng lập August Horch
Trụ sở chính Ingolstadt, Germany
Tổng số địa điểm 7 nhà máy ở 6 quốc gia
Phạm vi phục vụ Trên toàn thế giới
Thành viên chủ chốt
  • Rupert Stadler, Chủ tịch Hội đồng quản trị
  • Wolfgang Egger, Trưởng bộ phận thiết kế
  • Wolfgang Dürheimer, Trưởng bộ phận phát triển công nghệ
Số lượng sản xuất 1,466,059 chiếc, thống kê năm 2012 ( chỉ thương hiệu Audi)
Tổng thu nhập 48.771 tỷ euro, thống kê năm 2011
Chủ sở hữu Volkswagen Group (~99.55%)
Người lao động 46.372 người, thống kê năm 2009
Công ty con
  • Audi Hungaria Motor Kft.
  • Ducati Motor Holding S.p.A.
  • Italdesign Giugiaro
  • Automobile Lamborghini S.p.A
  • quattro GmbH
Trang chủ www.audi.com

Trần luân – Theo Tinoto

>> Lịch sử hãng Rolls-Royce – Đẳng cấp của một thương hiệu

CHIA SẺ